Giá bán Cây Lan Gấm (Anoectochilus setaceus), trên thị trường thế giới là 300 USD /kg tươi và 3200 USD /kg khô.

Nguyễn Ngọc Quỳnh

Phòng Công nghệ Sinh học-Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam

Giới thiệu cây lan gấm

Cây lan gấm (Anoectochilus sp) còn gọi là cây kim cương, kim tuyến, mộc sơn thạch tùng, thuộc họ Orchidaceae, gồm bốn chi: Ludisia, Anoectochilus, Goodyera, Macodes và trên 50 loài (Ormerod Paul, 2005). Trong đó chi Anoectochilus có số loài phong phú nhất (30-40 loài) và loài có giá trị dược liệu và thương mại cao trên thế giới hiện nay là Anoectochilus formosanus Hayata. Loài này được phát hiện ở Srilanka, Malaysia, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Trung Quốc, Australia và quần đảo Nam Thái Bình Dương, (Liu; Su, 1978 và Teuscher, 1978). Trước đây cây lan gấm trồng làm cây cảnh trong nhà, một số dân tộc thiểu số sử dụng lá lan gấm chữa các vết thương do rắn độc cắn. Nhưng hơn một thập niên trở lại đây, Đài Loan xem lan gấm là cây “Thuốc Vua” bởi tác dụng dược lý đa dạng của nó (Lin và Wu, 2007).

 

Công dụng của cây lan gấm

 

Theo y học cổ truyền Đài Loan, A. formosanus Hayata tươi hoặc khô nấu nước uống trị các chứng bệnh đau ngực, đau bụng, tiểu đường, viêm thận, sốt, huyết áp cao, liệt dương, rối loạn gan, lá lách và chứng đau nhói ngực (Lin và Wu 2007). Người Trung Quốc cho rằng uống trà làm từ A. formosanus Hayata chữa các chứng bệnh gan và phổi. Đại học Công nghệ Y dược và Cao đẳng Y học Quốc gia Dương Minh Đài Loan đã sử dụng A. formosanus Hayata làm thuốc kháng viêm, hạ sốt, giảm suy nhược cơ thể và kháng virus cúm A. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện A. formosanus Hayata chứa hợp chất chuyển hoá arachidonic acid liên quan đến chức năng tim mạch. Dịch chiết A. formosanus Hayata có khả năng kháng virus, kháng sưng viêm và bảo vệ gan. Chiết xuất của cây A. formosanus khô có chứa 4-hydroxycinnamic acid, β-sitosterol, β-D-glucopyranosyloxy và butanoid glucosides acid (Takatsuki, S.,1992). Gần đây, một hợp chất 3(R)-3- β-D-glucopyranosyloxy butanolide tên là thương mại kinsenoside được chiết xuất từ A. formosanusA. koshunensis chống tăng huyết áp hiệu quả (Takeshita,1995; Mark, 1990; Lin, 1993; Chan, 1994; Du, 1998, 2001). Hiện nay giá bán A. formosanus Hayata (cả thân, rễ, lá và hoa) trên thị trường thế giới là 300 USD /kg tươi và 3200 USD /kg khô. Nếu cây thu trong tự nhiên, giá bán cao hơn gấp 3 lần. .

 

Nhân giống và sản xuất cây sản phẩm

 

Cây giống lan gấm có thể tạo từ nhân in vitro các nốt thân, hạt giống và các bộ phận sinh dưỡng của cây. Tuy nhiên sự sinh trưởng các của cây lan gấm in vitro chậm, kéo dài thời gian nhân giống. Hiện nay nhiều nước chủ yếu sản xuất cây lan gấm từ nuôi cấy hạt in vitro.

 

Hạt giống lan gấm gieo trên môi trường MS giảm ½ khoáng đa lượng, bổ sung nước dừa, than hoạt tính và dịch chiết trái cây, hạt giống sẽ nảy mầm sau 4 tháng nuôi cấy.

 

Cấy chuyển sang môi trường tạo chồi MS giảm ½ khoáng đa lượng, bổ sung BA, NAA và sucrose, sau 4 tháng cấy chuyển qua môi trường tạo cây hoàn chỉnh.

 

Khi cây được 10 tháng tuổi, chuyển cây lan gấm in vitro ra trồng trong khay ngoài vườn ươm có hệ thống làm mát (cooling pad hoặc phun sương).

 

Để nâng cao tỉ lệ nảy mầm của hat lan gấm, hiện nay người ta dùng nấm Rhizoctonia cộng sinh với hạt, đã làm tăng tỉ lệ nảy mầm lên 80% trong môi trường OMA, gồm bột yến mạch, dịch chiết nấm men và agar (Ling-Chin Chou and Doris Chi-Ning Chang, 2003).

 

Một số sản phẩm chế biến từ lan gấm

 

Cây lan gấm sau thu hoạch có thể xuất khẩu ở dạng thô, sản phẩm gồm thân, rễ và lá phơi khô xuất khẩu cho các nước chế biến trà dược, thực phẩm chức năng, thạch lan và đặc biệt là chiết xuất chất 3(R)-3- β-D-glucopyranosyloxy butanolide để từ A. formosanusA. koshunensis để sản xuất biệt dược kinsenoside chữa trị tăng huyết áp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lin WC (2007) Study of health keeping effects of anoectochilus formosanus Hayata. Agriculture World. Vol. 288, 8-13.

Ling-Chin Chou and Doris Chi-Ning Chang (2003). Asymbiotic and symbiotic seed germination of Anoectochilus formosanus and        Haemaria discolor and their F1 hybrids, Department of Horticulture,     Nation Taiwan University, Bot. Bun. Acad. Sin. (2004) 5: 143-147.

Liu TS, Su HJ (1978). Anoectochilus formosanus Hayata, In Li HL, Huang TC, Koyama T, Devol CE (Eds), Flora of Taiwan, Epoch Publishing Co. Ltd, Taipei, Taiwan, 3: 874-876.

Ormerod Paul (2005). “Notulae Goodyerinae (II)”. Taiwania. Vol. 50 (1): 1–10.

Tsay CY (1997) Effects of Rhizoctonia spp. And temperature om the growth of plant anoectochilus formosanus Hayata. MSc. Thesis, Department of Horticulture. National Taiwan University 5, 23-27

Teuscher, H (1978). Erythrodes, Goodyera, Haemaria and Macodes, with Anoectochilus. Am. Orchid Soc. Bull. 47: 121-129.

Takeshita, T., H. Tago, M. Nakamura, S. Muraoka, and T. Yoshizawa (1995). Blood Sugar Regulator and Lipid Metabolism- Improving             Agent,             Japanese Patent Appl, No. 05246311, 1993, JP 0776522, JP 9576522

Takatsuki, S., J.D. Wang., T. Narui, and T. Okuyama, (1992). Studies on     the components of crude drug “Kim-soan-lian”, J. Jpn, Bot, 67: 121-123.

Wu KB (2007). The use and potential for Anoectochilus formosanus Hayata. Agricultre World. Vol.288, 14-19.